Lịch Sử Phát Triển
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
VÀ CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN ĐỂ THÀNH LẬP BỆNH VIỆN QUÂN Y 4
I. CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN ĐỂ THÀNH LẬP BỆNH VIỆN 4 (1975 - 1976)
1. Đội điều trị 14:
Là đơn vị quân y thuộc Cục Hậu cần miền Đông Nam bộ. Đây là đơn vị quân y có nhiều thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời kỳ trước tháng 7-1974 Đội điều trị 14 đã từng cơ động phục vụ cho các đơn vị tham gia các chiến dịch lớn như chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.
Năm 1973-1974 Đội Điều trị 14 phục vụ cho các đơn vị của Bộ Tư lệnh miền Nam tham gia các trận đánh lớn ở Long Khốt- Long An, ở Bà Bông, Chấn Đức, Gia Nghĩa và sau này các chiến dịch tại Đồng Xoài - Phước Long, Đội Điều trị 14 cũng theo bước bảm đảm quân y cho các đơn vị thuộc Quân đoàn 4.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tiến về Giải phóng Sài Gòn, Đội Điều trị 14 theo gót để phục vụ thương bệnh binh các đơn vị thuộc Quân đoàn 4. Sau 30/4/1975 Đội Điều trị 14 dừng chân tại một căn cứ trên đường Lê Văn Duyệt để đảm bảo quân y cho Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ và quản quân Sài Gòn Gia Định, 01 bộ phận của đội được tách ra về tiếp quản Bệnh viện Nguyễn Hữu Sanh tại căn cứ Sóng Thần.
Khi thành lập Bệnh viện Quân y 4 lực lượng Đội điều trị 14 có khoảng 60 đồng chí trong đó lực lượng nòng cốt là:
- Bác sỹ Trần Văn Hiến - Đội trưởng
- Đồng chí Lê Xuân Thục Chính trị viên- Bí thư Chi bộ
- Bác sỹ Chu Hùng
- Bác sỹ Mai Chung Sơn
- Y sỹ Nguyễn Xuân Hợi
- Y sỹ Lê Quang Lựu
- Y sỹ Trần Thành Phong
- Y sỹ Nguyễn Văn Quyết
- Dược sỹ Vũ Đình Cầu
Đội Điều trị 14 là lực lượng có mặt sớm để tiếp quản Bệnh viện dã chiến Nguyễn Hữu Sanh và triển khai thu dung cấp cứu điều trị cho thương bệnh binh của Quân đoàn 4 và là lực lượng quan trọng tiền thân để thành lập Quân y Viện 4.
2. Bệnh xá Cơ quan 3 Cục.
Là bệnh xá khối cơ quan tham gia điều trị các bệnh thông thường cho cán bộ chiến sỹ thuộc Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần.
Lực lượng của Bệnh xá có khoảng 30 đồng chí, lực lượng nồng cốt gồm:
- Bác sỹ Ngô Quang Kim Bệnh xá Trưởng.
- Đồng chí Ba Tăng: Chính trị viên-Bí thư Chi bộ
- Bác sỹ Bình
- Bác sỹ Bền
- Y sỹ Thủy
Và một số nhân viên chuyên môn và nhân viên hậu cần phục vụ.
Đây là lực lượng chuyên môn từng có nhiều kinh nghiệm trong thu dung điều trị cho khối các cơ quan Quân đoàn và bảo đảm quân y trong cuộc tổng tiến công giải phóng Sài Gòn Gia Định của khối cơ quan Quân đoàn Bộ.
3. Tiểu đoàn Bộ của Tiểu đoàn 5 Vận tải thồ thuộc Cục Hậu cần/Quân đoàn 4.
Lực lượng của Tiểu đoàn bộ tham gia thành lập Bệnh viện 4 có khoảng 20 đồng chí lực lượng nòng cốt là:
- Đồng chí Nguyễn Văn Thế - Chính trị viên Tiểu đoàn.
- Đồng chí Vũ Lưu – Tiểu đoàn phó.
Và một số cán bộ chiến sỹ làm nhiệm vụ hậu cần nuôi quân, bảo vệ.
Đây là lực lượng của Tiểu đoàn bộ vận tải thồ thuộc Cục Hậu cần, Quân đoàn 4 có nhiều đóng góp trong công tác bảo đảm vật chất phục vụ Quân đoàn cơ động tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, sau chiến dịch Tiểu đoàn được chuyển về đóng quân tại Căn cứ 301.
Tháng 7/1975 Bộ Tư lệnh Quân đoàn điều động Bác sỹ Đỗ Duy Tôn từ Sư đoàn 7 về Cục Hậu cần nhận nhiệm vụ tập hợp lực lượng từ 3 đơn vị: Đội Điều trị 14, Bệnh xá Cơ quan 3 Cục (Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần) và Tiểu đoàn bộ (Tiểu đoàn 5 vận tải) để tổ chức biên chế hình thành Bệnh viện cấp Quân đoàn và được Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định lấy tên là Bệnh viện 4 - Quân đoàn 4.
Nhiệm vụ chủ yếu của Bệnh viện lúc này là thu dung cấp cứu điều trị thương bệnh binh cho các đơn vị của Quân đoàn gồm: Sư đoàn bộ binh 7, Sư đoàn bộ binh 9, Sư đoàn 341, các lữ đoàn, các trung đoàn như: Lữ đoàn 22, Trung đoàn 24, Trung đoàn 25, Lữ đoàn 71, Tiểu đoàn thông tin 26 và cơ quan 3 Cục.
Vị trí bố trí của Bệnh viện là tiếp nhận Bệnh viện Nguyễn Hữu Sanh dã chiến, của Sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy Sài Gòn tại căn cứ Sóng Thần (vị trí của Bệnh viện Quân y 4 hiện nay). Số giường bệnh của thời kỳ này dao động từ 250 đến 300 giường bệnh. Cơ sở vật chất của Bệnh viện là 2 dãy nhà chữ thập tổng cộng là 8 nhà (hiện nay còn 4 nhà chữ thập: Khoa Sản, Khoa Nội Truyền nhiễm). Trong đó 5 nhà chữ thập bố trí là phòng bệnh và phòng làm việc, còn 3 nhà chữ thập được bố trí cho Khoa Dược, Khoa Phi lâm sàng và Khoa khám chuyên khoa, Khoa Hồi sức phẫu thuật. Ngoài ra còn có 2 nhà 2 mái lợp tôn, 1 bố trí cho phòng khám bệnh, 1 nhà bố trí căn tin phục vụ. Bệnh viện còn tiếp quản một số căn nhà tôn vòm dã chiến (hình ống cống) do Đội điều trị 14 tiếp quản để sử dụng phục vụ điều trị thương bệnh binh.
Trang thiết bị của bệnh viện chủ yếu là những trang bị có sẵn của Đội điều trị 14 từng phục vụ trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước gồm 2 bộ phẫu thuật (1 bộ đại phẫu, 1 bộ trung phẫu) 1 máy gây mê dã chiến nửa kín, nửa hở của Trung Quốc và các dụng cụ khám chữa bệnh thông thường.
Bệnh viện dã chiến Nguyễn Hữu Sanh để lại gồm 2 máy chiếu chụp X.Quang, 1 máy 100mA còn sử dụng được và 1 máy 50mA đã hư, khoảng trên 200 giường bệnh bằng kim loại có bánh xe, có hệ thống điều khiển tư thế của bệnh nhân. Hệ thống phòng mổ lúc này gồm 3 phòng mổ, 2 phòng mổ lớn, 1 phòng mổ nhỏ, mỗi phòng mổ có 1 bàn đa năng và hệ thống đèn mổ, đèn chiếu sáng và 1 máy gây mê.
* Thành lập Bệnh viện:
Căn cứ ý định của cấp trên và hướng dẫn chỉ đạo của Thủ trưởng Cục Hậu cần chỉ trong 3 ngày từ 12-15/7/1975 Ban chỉ huy Bệnh viện đã tổ chức biên chế hình thành nên Bệnh viện 4 với lực lượng tiền thân từ 3 đơn vị là toàn bộ cán bộ chiến sĩ Đội điều trị 14, cán bộ chiến sĩ bệnh xá cơ quan 3 Cục, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn bộ, Tiểu đoàn vận tải 5.
Ngày 15/7/1975 tại Bệnh viện đoàn cán bộ gồm:
- BS Huỳnh Nhơn - Chủ nhiệm Quân y Quân đoàn.
- Đại diện Thủ trưởng Cục Hậu cần
- Đại diện Phòng Tham mưu
- Đại diện Phòng Chính trị
- Đại diện Phòng Cán bộ - Cục Chính trị
- Đại diện Phòng Quân lực - Bộ Tham mưu
Và các đồng chí:
- BS Đỗ Duy Tôn Đội Điều trị Sư đoàn 7 điều về.
- Đồng chí Nguyễn Văn Thế - Chính trị viên Tiểu đoàn Vận tải 5.
- Đồng chí Vũ Lưu – Tiểu đoàn Phó – Tiểu đoàn Vận tải 5.
- BS Trần Văn Hiến – Đội trưởng Đội Điều trị 14.
- Đồng chí Lê Xuân Thục - Chính trị viên – Bí thư Chi bộ Đội Điều trị 14.
- BS Ngô Quang Kim – Bệnh xá trưởng – Bệnh xá cơ quan 3 Cục.
- Đồng chí Ba Tăng – Chính trị viên – Bệnh xá Cơ quan 3 Cục và một số đồng chí ở cơ quan Quân đoàn có liên quan dự thành lập Bệnh viện.
BS Huỳnh Nhơn thay mặt Cục Hậu cần công bố quyết định về việc tổ chức thành lập Bệnh viện 4 và giao nhiệm vụ cho các cán bộ và công bố danh sách các Chủ nhiệm khoa, ban, cùng mẫu tổ chức biên chế của toàn Bệnh viện.
Sau này ngày 15/7/1975 được coi là một dấu mốc quan trọng cho sự hình thành và phát triển của Bệnh viện.

Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Bệnh viện
* TỔ CHỨC BIÊN CHẾ CỦA BỆNH VIỆN 4
A. Về chuyên môn
1. Ban Chỉ huy viện:
- BS Đỗ Duy Tôn giữ chức Viện trưởng.
- Đồng chí Nguyễn Văn Thế giữ chức Chính trị viên Bệnh viện.
- Đồng chí Vũ Lưu giữ chức Viện phó Hậu cần.
2. Các ban chuyên môn
- Phòng khám bệnh: Do Bác sỹ Chu Hùng phụ trách.
Nhiệm vụ: Tiếp nhận đăng ký phân loại và khám chữa bệnh, khám bệnh kê đơn điều trị ngoại trú cho bệnh nhân các cơ quan đơn vị trong Quân đoàn. Hoàn chỉnh các thủ tục bệnh án nhận và chuyển bệnh nhân vào điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng. Sẵn sàng tăng cường và làm công tác cấp cứu ngoại viện. Tham gia Hội đồng Giám định y khoa và cung cấp các tài liệu lâm sàng, cận lâm sàng để phục vụ giám định thương bệnh binh.
- Ban y vụ: Bs Ngô Quang Kim-Trưởng ban
Nhiệm vụ: Giúp việc cho Ban Giám đốc, xây dựng kế hoạch công tác, kiểm tra đôn đốc các khoa ban thực hiện kế hoạch. Duy trì thực hiện các chế độ chuyên môn Bệnh viện, kiểm tra đôn đốc duy trì thực hiện các công tác thường xuyên của Bệnh viện. Tổ chức các cuộc giao ban, hội chẩn, hội nghị, sơ tổng kết, chủ trì các hội nghị khoa học. Thay mặt Viện trưởng điều hành một số mặt công tác khi được ủy nhiệm. Tham gia Ủy viên thường trực kiêm Thư ký của Hội đồng Giám định thương tật tổng hợp báo cáo theo quy định.
- Ban Dược: Dược sỹ Vũ Đình Cầu- Trưởng ban
Nhiệm vụ: Bảo đảm các nhu cầu về trang thiết bị, thuốc men cho các khoa điều trị. Tổ chức sản xuất pha chế một số loại thuốc (chủ yếu dịch truyền) theo khả năng phục vụ và đáp ứng kịp thời cho công tác điều trị của toàn viện. Kiểm tra việc thực hiện chế độ Dược của các khoa, Chấn chỉnh kịp thời những sai sót trong kê đơn sử dụng thuốc, tổ chức trồng thu hái, sản xuất một số loại thuốc nam thực hiện chủ trương kết hợp Đông Tây y.
3. Khối Ngoại: gồm 3 khoa
- Khoa Ngoại 1: Bs Trần Văn Hiến- Trưởng Khoa Ngoại chung, với chức năng khám điều trị, phẫu thuật cho các bệnh nhân bệnh ngoại khoa về ngoại bụng, tiết niệu, bệnh nhân di chứng vết thương sau chiến tranh, tiếp nhận nuôi dưỡng bệnh nhân đã ổn định sau phẫu thuật chờ giải quyết chính sách.
- Khoa Ngoại 2: Bs Trần Văn Hiến kiêm Trưởng khoa thu dung Cấp cứu Điều trị các bệnh nhân chấn thương vết thương về xương, khớp, bệnh nhân các Chuyên khoa Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Mắt.
- Khoa Phòng mổ hồi sức: Bác sỹ Mai Trung Sơn là Trưởng khoa, y sỹ Nguyễn Xuân Hợi chuyên khoa Gây mê Hồi sức.
Nhiệm vụ hồi sức cấp cứu thương bệnh binh trước sau phẫu thuật: Chuẩn bị các phương tiện, bệnh nhân cho các ca phẫu thuật lớn để cấp trên hỗ trợ. Xếp lịch mổ, lịch phẫu thuật viên hợp đồng phẫu thuật với các khoa ban. Sẵn sàng cơ động đi cấp cứu ngoại viện.
4. Khối nội: Gồm 3 khoa
- Khoa Nội 1: Bs Bình là Trưởng khoa
Nhiệm vụ: Khám cấp cứu thu dung điều trị cho Sỹ quan từ cấp Thượng úy đến Trung tá, cho các đối tượng Chính sách và gia đình cán bộ.
- Khoa Nội 2: Bs Bình kiêm Trưởng khoa
Nhiệm vụ: Khám thu dung điều trị các bệnh nhân bệnh lý về tim mạch Huyết áp, Hô hấp, Xương khớp, Tiết niệu, Nội tiết.
- Khoa Nội 3: Bs Bền là Trưởng khoa
Nhiệm vụ: Khám thu dung Cấp cứu Điều trị các bênh nhân bệnh lý về dạ dày, đường ruột, gan mật, tiêu hóa, các bệnh lý về Truyền nhiễm chú trọng bệnh lý sốt rét (vì lúc này chưa có Khoa Truyền nhiễm).
B. Các khoa ban không chuyên môn
1. Ban Chính trị:
Lúc này chưa có cán bộ chủ trì, chỉ có 2 đồng chí Sỹ quan, 1 trợ lý tuyên huấn, 1 trợ lý bảo vệ và 1 hạ sỹ quan phụ trách thông tin tuyên truyền.
Nhiệm vụ thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí Chính trị viên - Bí thư Đảng ủy Bệnh viện.
2. Ban Hậu cần
Biên chế chưa có cán bộ chủ trì, giao cho 1 đồng chí quản lý phụ trách gồm có các bộ phận sau:
- Bộ phận Tài vụ
- Bộ phận Quân nhu
- Tổ Tiếp phẩm
- Tổ Chế biến
- Bộ phận tăng gia Sản xuất.
- 4 bếp ăn: 1 bếp ăn của thương bệnh binh, 3 bếp ăn của cán bộ, công nhân viên (Khối Nội, Khối Cơ quan thời gian này nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu do quân nhu cấp trên cung cấp theo tiêu chuẩn. Công tác tiếp phẩm chủ yếu nhận từ cấp trên, 1 phần rau tươi gia vị là tự mua).
3. Ban Hành chính
Lúc này ban hành chính mới bổ sung trong danh mục Biên chế, toàn bộ công việc hành chính tạm giao cho Ban y vụ đảm nhiệm gồm có: Công tác Văn thư, Quân lực, Tiểu đội vệ binh.
C. Tổ chức Đảng:
1. Đảng ủy lúc đầu thành lập Bệnh viện Đảng ủy Bệnh viện là Đảng ủy bộ phận trực thuộc Đảng ủy Cục Hậu cần.
- Bí thư Đảng ủy Bệnh viện là Đồng chí Nguyễn Văn Thế, phó Bí thư Đảng ủy là đồng chí Đỗ Duy Tôn.
2. Các Chi bộ trực thuộc:
- Chi bộ cơ quan gồm các Đảng ủy viên trong Ban Chỉ huy Bệnh viện, Y vụ, Phòng khám bệnh, Ban Dược.
- Chi bộ Hậu cần, Chính trị gồm các Đảng viên thuộc Ban Hậu cần, Ban Chính trị.
- Chi bộ Khối Nội: Gồm các Đảng viên thuộc Khối Nội.
- Chi bộ Khối Ngoại: Gồm các Đảng viên thuộc khối Ngoại.
Tình hình chung:
Ngày đầu mới thành lập hầu hết cán bộ, chiến sỹ của Bệnh viện là những người con quê hương miền Bắc trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tuổi quân phục vụ ít nhất cùng có 3 đến 4 năm tại các chiến trường gian khổ nên tình hình tư tưởng có nhiều diễn biến khác nhau. Nhiều đồng chí xác định nhiệm vụ phục vụ thương bệnh binh là trên hết cũng có nhiều tư tưởng phát sinh tiêu cực, muốn mau chóng giải quyết chế độ ra quân phục viên. Từ đó đòi hỏi công tác lãnh đạo cần sớm ổn định, tổ chức, ổn định tư tưởng xây dựng quyết tâm cao để cũng có và phát triển Bệnh viện. Nghị quyết của Đảng ủy Bệnh viện lúc này tập trung vào lãnh đạo một số nhiệm vụ cấp bách là:
Một là: Tập trung nhanh chóng ổn định về tổ chức biên chế, chuyển nhiệm vụ phục vụ từ thời chiến sang thời bình, phục vụ sức khỏe cho cán bộ chiến sỹ của Quân đoàn làm nhiệm vụ quản quân thành phố Sài Gòn Gia Định, sau đó là các đơn vị rút quân về vị trí đóng quân, tiếp tục huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế.
Hai là: Điều trị ổn định, giám định chính sách đề xuất Quân đoàn giải quyết chế độ cho thương bệnh binh sau kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ba là: Kịp thời đề nghị cấp trên bổ sung cán bộ nhân viên chuyên môn, hạ sỹ quan, chiến sỹ quân y thay thế cho số chuyên vùng, chuyên ngành và bổ sung biên chế của Bệnh viện theo quy định.
Bốn là: Đề nghị cấp trên cấp phát trang thiết bị y tế, sữa chữa bảo quản dụng cụ máy móc được tiếp quản và của 3 đơn vị mang về, sớm đưa hoạt động chuyên môn vào nền nếp.
Với sự chỉ đạo tích cực Phòng Quân y, Cục Hậu cần, Quân đoàn, Bệnh viện 4 nhanh chóng ổn định về tổ chức biên chế. Hoạt động chuyên môn của Bệnh viện bước đầu đi vào nền nếp với sự nỗ lực của đội ngũ nhân viên chuyên môn Bệnh viện đã thu dung cấp cứu điều trị an toàn hiệu quả. Số giường bệnh thu dung cấp cứu điều trị nội trú lúc này đạt từ 200 đến 300 bệnh nhân.
II. THÀNH LẬP QUÂN Y VIỆN 4 (1976 – 1990)
Giữa năm 1976 Quân đoàn 4 kết thúc nhiệm vụ quân quản thành phố Sài Gòn Gia Định bàn giao lại cho chính quyền thành phố và rút về đóng quân tại căn cứ Sóng Thần. Các sư đoàn, lữ đoàn của Quân đoàn đóng quân tại Sông Bé, căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, căn cứ Long Bình, Biên Hòa. Lực lượng cán bộ của Quân đoàn được sắp xếp tổ chức biên chế phục vụ cho nhiệm vụ tuyển quân, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và tham gia làm kinh tế. Theo đó Quân đoàn được tiếp nhận 4.000 chiến sỹ mới nhập ngũ từ miền Bắc, đây là lực lượng bổ sung cho số chiến sỹ được giải quyết chính sách phục viên sau chiến tranh. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ Quốc phòng có quyết định thành lập Quân y Viện 4 thuộc Cục Hậu cần, Quân đoàn 4 vào ngày 21/8/1976. Đây là dấu mốc quan trọng và được lấy làm ngày truyền thống của Bệnh viện sau này.
* Tổ chức biên chế của Quân y Viện 4:
A. KHỐI CƠ QUAN
1. Ban Chỉ huy
- BS Đỗ Duy Tôn – Viện trưởng.
- Đồng chí Trương Dự - Chính ủy (Từ Phòng Hậu cần – Sư đoàn 9 chuyển về thay đ/c Thế - Chính trị viên chuyển vùng).
- BS Nguyễn Chung-Viện phó chuyên môn (Được điều động từ Sư đoàn 7).
- Đ/c Vũ Lưu – Viện phó Hậu cần (Cuối 1977 đồng chí Vũ Lưu được nghỉ chính sách và đồng chí Vũ Khoáng từ Cục Chính trị về thay thế).
2. Ban Chính trị
- Đ/c Ngọ từ Sư đoàn 7 điều về giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Bệnh viện (1978 chuyển vùng ra Bắc, đ/c Cách từ Cục Hậu cần về thay thế).
- Đ/c Biên từ Trường Quân chính được điều về giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị kiêm trợ lý tổ chức.
- Ngoài ra còn có 1 trợ lý tuyên huấn, 1 trợ lý bảo vệ, 1 trợ lý cán bộ và 1 nhân viên chính trị.
3. Ban Hành chính
- Đ/c Hạnh là Trưởng ban.
- Tiểu đội bảo vệ 9 đồng chí
- Nhân viên quân lực
- Chiến sỹ liên lạc, 3 công nhân vệ sinh công cộng.
4. Ban Hậu cần
- Đ/c Lê Lâm Tương – Trưởng ban (Từ Học viện Hậu cần về)
- Đ/c Mai Văn Đấu – Trợ lý quân nhu, quân trang.
- Đ/c Phạm Quốc Huy – Trợ lý Tài vụ
- Và các bộ phận gồm: Quân nhu, quân trang, tài vụ, bộ phận kho, lương thực thực phẩm, kho quân trang, bộ phận nhà giặt, tổ chế biến thực phẩm, tổ chăn nuôi, tổ sản xuất và 2 bếp ăn, bếp ăn nhân viên, bếp ăn thương bệnh binh.
B. KHỐI CHUYÊN MÔN
Trên cơ sở về nhân lực được chế biến bổ sung, Bệnh viện đã tổ chức khá hoàn chỉnh các khoa ban chuyên môn theo biên chế của Bộ Tổng tham mưu đối với Bệnh viện loại B (tương đương cấp trung đoàn) với tỷ lệ phục vụ là 0,7 nhân viên chuyên môn cho 1 thương bệnh binh.
1. Các cơ quan chuyên môn
- Ban y vụ
- Phòng khám bệnh
- Khoa phi lâm sàng
- Khoa dược
2. Khối Ngoại
- Phòng mổ, hồi sức cấp cứu
- Khoa Ngoại I: Ngoại chung
- Khoa Ngoại II: Ngoại chấn thương, ngoại chuyên khoa
3. Khối Nội
- Khoa Nội I: Điều trị cán bộ, gia đình quân nhân
- Khoa Nội II: Bệnh lý tim, thận, khớp
- Khoa Nội III: Bệnh lý tiêu hóa, tiết niệu
- Khoa Nội IV (Cuối 1977): Bệnh lý truyền nhiễm
4. Khoa Dược
Ngoài lực lượng dược sỹ, dược tá của Đội điều trị 14 và Bệnh xá cơ quan, Bệnh viện được bổ sung 3 đồng chí dược sỹ đại học và nhiều dược sỹ trung cấp, dược tá, dược công. Dược sỹ Vũ Xuân Lan làm trưởng khoa Dược, được tổ chức thành 2 bộ phận.
- Bộ phận làm nhiệm vụ quản lý công tác dược theo chế độ quy định.
- Bộ phận sản xuất: Là sản xuất các trang thiết bị y tế đơn giản, như hệ thống pha chế dịch truyền, khép kín, máng dập viên nén, các phương tiện để ủ men sản xuất cồn, rượu bổ, các loại thuốc nước, sản xuất hoàn tán các loại thuốc đông y phục vụ cho điều trị thương bệnh binh và cung cấp cho các đơn vị.
Cơ sở vật chất của Quân y Viện 4 bao gồm trang thiết bị được tiếp quản từ Bệnh viện Nguyễn Hữu Sanh và được Quân đoàn, Cục Quân y trang bị
Nhiệm vụ của Bệnh viện được cấp trên giao cho là tiếp tục điều trị, giám định thương tật cho thương bệnh binh, sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm cơ sở để Quân đoàn giải quyết các chế độ chính sách. Bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ Quân đoàn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tham gia sản xuất kinh tế. Với lực lượng được tổ chức biên chế hơn 200 cán bộ, chiến sỹ để phục vụ cho 300 giường bệnh theo biên chế. Bệnh viện đã nhanh chóng ổn định, triển khai thu dung cấp cứu điều trị an toàn hiệu quả ngay sau khi được thành lập. Công tác thu dung cấp cứu điều trị được sơ tổng kết rút kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng, chuyên môn, các quy chế quy định được xây dựng và bổ sung kịp thời, chế độ hội chẩn rút kinh nghiệm chuyên môn được duy trì có nề nếp. Bệnh viện phát triển ổn định vững chắc hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho.
III. ĐỘI ĐIỀU TRỊ 4 (1990 - 1994)
Năm 1990 sau Hiệp ước của khối ASEAN quân đội thường trực của các nước giảm đáng kể. Sau thực hiện nhiệm vụ quốc tế, Quân đoàn giảm quân số thường trực, một mặt giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ phục viên, chuyển ngành, xuất khẩu lao động. Mặt khác tuyển nhận tân binh hạn chế quân số so với trước đây, chỉ tập trung huấn luyện tân binh thuộc các tỉnh phía Nam. Trước tình hình đó thực hiện chủ trương của Bộ Quốc phòng, Quân y Viện 4 rút gọn thành Đội điều trị 4. Từ một bệnh viện loại B với hơn 300 cán bộ công nhân viên nay còn 70 cán bộ, nhân viên. Nhiệm vụ của Đội điều trị là thu dung cấp cứu điều trị cho cán bộ, chiến sỹ trong Quân đoàn và gia đình chính sách trên địa bàn. Nhiệm vụ bảo đảm quân y cho Quân đoàn huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, hành quân dã ngoại vẫn như trước đây, nhưng phạm vi quy mô thu hẹp hơn. Trang thiết bị của Bệnh viện trước đây mặc dù không thay đổi, nhưng phần lớn đã hư hỏng xuống cấp nặng do vậy Đội điều trị gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ.
* Tổ chức biên chế của Đội điều trị 4
1. Ban Chỉ huy
- Thiếu tá Bác sỹ Trần Đình Kỳ - Đội trưởng, Phó Bí thư chi bộ.
- Đại úy Bác sỹ Nguyễn Vi Trường – Đội phó chuyên môn
- Đại úy Đinh Công Soạn – Đội phó Chính trị - Bí thư chi bộ.
- Đại úy Nguyễn Văn Sự - Đội phó Hậu cần.
2. Ban Phòng khám – hành chính – y vụ - xét nghiệm
Được biên chế 17 đồng chí do Bác sỹ Trần Văn Han phụ trách:
- Tổ phòng khám: 2 bác sỹ, 1 y sỹ
- Tổ hành chính – y vụ: Gồm văn thư bảo mật, nhân viên y vụ, liên lạc, vệ binh biên chế 9 đồng chí.
- Tổ xét nghiệm – X.quang: Gồm 5 đồng chí là y sỹ chuyên khoa X.quang, Xét nghiệm.
3. Ban Ngoại và chuyên khoa lẻ: Gồm 16 đồng chí là y bác sỹ chuyên khoa ngành ngoại khoa và các chuyên khoa Tai – Mũi – Họng, Mắt, Răng – Hàm – Mặt. Ban này do Bác sỹ Trần Đình Huấn phụ trách và chia làm 3 tổ:
- Tổ phòng mổ và hồi sức cấp cứu: Bộ phận này biên chế 8 – 10 giường bố trí ngay cạnh phòng mổ. Được biên chế 2 bác sỹ, 2 y sỹ và 2 y tá. Nhiệm vụ của tổ là xử lý cấp cứu phẫu thuật và điều trị cho bệnh nhân cấp cứu và ngoại khoa.
- Tổ điều trị các bệnh ngoại thông thường: Tổ này được biên chế 2 bác sỹ, 2 y sỹ và 1 y tá. Nhiệm vụ tiếp nhận điều trị các bệnh lý ngoại khoa như phẫu thuật trĩ, phymosis, chích rạch áp xe, các vết thương phần mềm gãy xương nhỏ.
- Tổ điều trị các chuyên khoa Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Mắt được biên chế 3 y sỹ chuyên khoa, 2 y tá.
Nhiệm vụ thu dung cấp cứu điều trị các bệnh lý chuyên khoa đơn giản. Những ca bệnh nặng đều phải chuyển về tuyến trên.
4. Ban Nội:
Được biên chế 12 đồng chí do Bác sỹ Võ Minh Nhung phụ trách và chia làm 2 tổ:
- Tổ điều trị Nội chung:
Tổ này được biên chế 2 bác sỹ, 2 y sỹ và 3 y tá.
Nhiệm vụ thu dung cấp cứu điều trị các bệnh lý nội dung như bệnh dạ dày-tá tràng, đại tràng, gan mật, thận, tim mạch, phổi, tăng huyết áp, suy nhược thần kinh suy nhược cơ thể…
- Tổ Nội truyền nhiễm, Tâm thần:
Biên chế 2 bác sỹ, 1 y sỹ và 2 y tá.
Nhiệm vụ thu dung điều trị các bệnh truyền nhiễm như lao phổi, sốt rét, sốt xuất huyết, sốt phát ban, thương hàn, viêm gan, các bệnh lý ngoài da…
5. Ban Hậu cần:
Được biên chế 20 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Sự - Đội phó Hậu cần chỉ huy.
Nhiệm vụ: Bảo đảm đời sống cho cán bộ chiến sỹ và bệnh nhân. Bảo đảm mọi chế độ tiêu chuẩn quân nhu, quân trang cho mọi đối tượng. Bảo đảm công tác vận tải, quản lý xăng xe, cơ sở vật chất hậu cần. Thực hành tăng gia sản xuất cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên toàn đội.
Ban Hậu cần được biên chế thành 3 tổ:
- Tổ tài vụ kế toán
- Tổ lái xe, kho hậu cần
- Tổ nuôi quân phục vụ
6. Nhiệm vụ của Đội điều trị 4
1. Thu dung cấp cứu điều trị cho cán bộ chiến sỹ trong Quân đoàn từ các đơn vị chuyển về. Chuyển viện kịp thời những trường hợp bệnh nặng, bệnh lý ngoại khoa từ trung phẫu trở lên. Khám sức khỏe định kỳ tư vấn dự phòng cho cán bộ chiến sỹ. Ngoài ra còn tham gia khám điều trị cho một số đơn vị hành chính sự nghiệp của các cơ quan đơn vị địa phương và nhân dân trên địa bàn.
2. Huấn luyện phục vụ sẵn sàng chiến đấu. Bảo đảm quân y cho các đơn vị cơ động dã ngoại diễn tập bắn đạn thật. Sẵn sàng cơ động bảo đảm quân y cho các nhiệm vụ A2, phòng chống bão lụt, thiên tai dịch bệnh…
3. Huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nhân viên quân y trong Quân đoàn. Chủ động mời quân y tuyến trên về huấn luyện chuyển giao kỹ thuật, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, cầm tay chỉ việc cho tuyến dưới. Tổng kết kinh nghiệm công tác bảo đảm quân y phục vụ chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Campuchia. Luân phiên gửi cán bộ nhân viên quân y đi đào tạo ở các bệnh viện nhà trường trong và ngoài quân đội.
4. Tích cực tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, nâng cao cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên. Tích cực cải tạo cảnh quan môi trường, trồng cây lâm nghiệp.
Tuy thời gian tồn tại của Đội điều trị 4 không dài (Từ tháng 3 năm 1990 đến tháng 05 năm 1994) nhưng đây là thời kỳ khó khăn vất vả nhất của đơn vị từ khi được thành lập. Nhiều tác động tiêu cực đến tâm tư tình cảm, công ăn việc làm và nhu cầu phát triển của đội ngũ cán bộ công nhân viên. Công tác giáo dục rèn luyện định hướng để giữ vững đội ngũ cán bộ nòng cốt làm cơ sở cho việc tái thành lập bệnh viện sau này đã được các cấp quan tâm kịp thời. Nhiều cán bộ y bác sỹ đã được cử đi học chuyên khoa, chuyển giao kỹ thuật mới để sau này là nguồn xây dựng bệnh viện. Những nổ lực cống hiến đóng góp của nhiều thế hệ đã góp phần xây dựng Đội điều trị 4 ổn định phát triển hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao cho. Góp phần giữ vững truyền thống của Quân y viện 4 trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, là tiền đề cơ sở cho sự phát triển của Bệnh viện Quân y 4 cho đến ngày nay.
IV. BỆNH VIỆN 4 (1994 - 2014)
Năm 1994 trong xu thế phát triển kinh tế hội nhập của khu vực miền Đông Nam bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Sông Bé thực hiện chủ trương mời gọi các doanh nghiệp đầu tư, các công ty, xí nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp Sóng Thần và khu vực địa bàn lân cận tăng lên nhanh chóng, theo đó dân cư, công nhân, lao động tự do đến định cư trên địa bàn ngày càng đông đúc. Nhà nước phát động thực hiện chương trình kết hợp Quân dân y (gọi tắt là Chương trình y tế số 12). Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã ban hành Chỉ thị số 142/CT-QĐ kiện toàn Đội điều trị 4 thành Bệnh viện 4. Từ đây Bệnh viện được mang tên Bệnh viện 4, còn được nhân dân trong vùng gọi là Bệnh viện Quân đoàn 4. Năm 2014 Bệnh viện 4 đổi tên thành Bệnh viện Quân y 4 (2014 - Nay).
* Tên gọi của Bệnh viện qua các thời kỳ:
- Bệnh viện 4 (1975 - 1976);
- Quân y Viện 4 (1976 - 1990);
- Đội điều trị 4 (1990 - 1994);
- Bệnh viện 4 (1994 - 2014);
- Bệnh viện Quân y 4 (2014 - nay)./.